Tổng Hợp Kinh Phật Nói Về Địa Ngục

Thảo luận trong 'Kinh nghiệm cuộc sống' bắt đầu bởi invalid@example.com, 2 Tháng mười một 2017.

    1. Tỉnh thành:

      Toàn Quốc
    2. Nhu Cầu:

      Rao vặt
    3. Tình trạng:

      Tin tức
    4. Giá bán :

      0 VNĐ
    1. Số điện thoại:

    2. Địa chỉ:

    3. Thông Tin:

      2 Tháng mười một 2017, 0 Trả lời, 150 Đọc
  1. CHƯ KINH PHẬT THUYẾT ĐỊA NGỤC TẬP YẾU

    LỜI TỰA
    Cận đại thế nhân mê tín khoa học, không tin nhân quả, không kính thiên địa, không biết luân thường đại đạo là nhân loại tự nhiên bản tánh, bởi vậy cả gan làm loạn, không việc ác nào không làm. Thật tình không biết, nhân quả báo ứng, tơ hào không sai. Tuy nói vạn pháp giai không, nhưng nhân quả bất không, bởi vì nhân quả có đủ tương tục bất không, chuyển biến bất không, tuần hoàn bất không, cho nên hết thảy thiện ác nghiệp đã tạo tác, tất triêu cảm quả báo tương ứng.

    Nhân sinh không chỉ có nỗi khổ sinh lão bệnh tử, sau khi chết đi đâu về đâu, mới là thiết thân lợi ích mọi người thật sự nhất định phải quan tâm, mà cái mấu chốt liên quan đời đời kiếp kiếp luân hồi này, chúng ta không thể không biết, không thể không rõ ràng. Thế nhân tạo ác mãnh liệt, tương lai đọa biển lửa địa ngục là kết quả tất nhiên. Quả thật như Thái Thượng Cảm Ứng Thiên viết: “Họa phước vô môn, duy nhân tự triệu; thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình” (Họa và phước chẳng có cửa nẻo nhất định, chỉ do con người tự chuốc lấy. Thiện báo, ác báo như bóng theo hình). Không phải không báo, mà là thời điểm chưa tới.

    Địa ngục từ đâu mà đến? Thế Tôn chỉ rõ hết thảy pháp từ tâm tưởng sinh. Bởi vì tâm tưởng khác biệt, tạo nghiệp liền không đồng nhất. Thiện nghiệp, ác nghiệp đều do tâm tạo, cho nên hình phạt trong địa ngục không phải Diêm Vương tạo ra, mà là ác nghiệp triêu cảm. Như người nằm mộng, cảnh giới khổ vui trong mộng không có chỗ nào mà không phải là kết quả từ tâm tạo tác.

    Những năm gần đây, nhà khoa học Nhật Bản, Tiến sĩ Giang Bổn Thắng (Masaru Emoto), lấy mười năm nghiên cứu quy luật biến hóa kết tinh của nước chứng minh, ý thức con người có thể làm thay đổi kết tinh của nước. Dùng tâm yêu thương, tâm cảm ân, các loại thiện niệm truyền cho nước, nước sẽ cho kết tinh phi thường mỹ lệ. Nếu như dùng ác tâm ác ý, thì kết thành kết tinh cực kỳ mơ hồ xấu xí. Cùng một lý đó mà biết được, nhân loại ý thức có thể cải biến hết thảy hoàn cảnh. Cho nên, thế giới Cực Lạc là duy tâm sở hiện, địa ngục cũng là tâm tưởng thức biến, như Kinh Hoa Nghiêm nói: “ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm sở tạo” (nên quán xét tánh thật của các pháp trên thế gian này tất cả đều là do tâm tạo thành).

    Phật nói cho chúng ta biết: Nghiệp nhân đệ nhất của địa ngục là sân khuể, tật đố. Tâm sân khuể, tật đố nặng, là tâm tính phi thường phổ biến của người hiện đại, lại thêm ý niệm tự tư tự lợi kiên cố, đều là nghiệp nhân tạo thành quả báo địa ngục, huống chi tạo tác ác nghiệp hữu hình, tất chạy không thoát địa ngục khổ quả. Cho nên, địa ngục là kết quả do chính tâm mình tạo tác, bất luận kẻ nào cũng không thể thay thế.

    Nhà tâm lý học nước Mỹ Khải Tây (Cayce), từng dùng thuật thôi miên trị liệu bệnh nhân, ở trong thôi miên sâu, bệnh nhân có thể nói ra vài ngàn năm trước hoặc mấy chục đời trước đó, đời đời kiếp kiếp sự tình. Có ít người ở trong thôi miên nói ra, đời quá khứ từng đọa súc sinh đạo, ngạ quỷ đạo, địa ngục đạo đủ loại tình hình, cùng Phật kinh đã nói đều tương ứng, cho nên lục đạo luân hồi cùng nhân quả báo ứng là chân thật không giả.

    Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả. Thánh phàm khác biệt ngay tại chỗ này. Bồ Tát biết rõ quả báo đáng sợ, cho nên khởi tâm động niệm, không dám tạo ác. Chúng sinh hôn muội vô tri, cả gan làm loạn, bất chấp hậu quả, thẳng đến khổ quả hiện tiền, chịu tội đến mức cùng cực, mới hối hận thì đã muộn. Nếu như không thấu rõ lý nhân quả, muốn quay đầu xác thực rất khó.

    Ấn Quang tổ sư bi trí hoằng sâu, biết đại kinh đại luận đã không kịp cứu vãn thế gian kiếp nạn, duy chỉ có đề xướng nhân quả giáo dục, mới là con đường cứu thoát khỏi diệt vong. Cho nên, Ấn Tổ cả đời cực lực đề xướng in “Liễu Phàm tứ huấn”, “An Sĩ toàn thư”, “Thái Thượng cảm ứng thiên”, các loại nhân quả thiện thư v.v... đây là những sách giáo dục nhân quả phù hợp nhất với xã hội trước mắt, đánh thức nhân tâm hướng thiện. Có thể để cho mọi người biết, hết thảy tai nạn đều là quả báo mà tự thân tạo tác tội nghiệt cảm đến.

    Rất nhiều tôn giáo điển tịch đều có miêu tả địa ngục, Phật giáo kinh điển là tường tận. phong phú nhất. Thế Tôn thương xót chúng sinh, ngoài Kinh Địa Tạng, còn có rất nhiều kinh điển tường thuật sự lý nhân quả, cùng đủ loại thảm trạng ở địa ngục. Nếu có thể đem tình trạng địa ngục công bố với thế nhân, để đại chúng minh bạch đọa lạc địa ngục nghiệp nhân quả báo cùng chân tướng sự thật, kịp thời cảnh tỉnh hối ngộ, nghĩ địa ngục khổ, phát bồ đề tâm, tất có thể chuyển chúng sinh cộng nghiệp, thoát khỏi hạo kiếp trước đây chưa từng có!

    Mấy vị đồng học ngày đêm phiên duyệt Đại Tạng Kinh, trải qua nửa tháng, cùng tìm ra hai mươi lăm bộ kinh luận tường thuật cụ thể tình trạng địa ngục, nội dung tường tận, nghiệp nhân minh xác, chủng loại phong phú, quả báo tàn khốc che kín tầng tầng, thật sự là nhìn thấy mà giật mình, trước đây chưa từng gặp. Người đọc đến những kinh luận này, không chỉ có hãi hùng khiếp vía, mồ hôi lạnh chảy ròng, càng phát hiện mình khởi tâm động niệm không gì không phải là tạo nghiệp địa ngục, lúc này mới thật sự hiểu Kinh Địa Tạng nói tới: “Tất cả mọi cử chỉ, động niệm của chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề không chi là không nghiệp, không chi là không tội”. Nếu chúng ta có thể biết tình cảnh khi bất hạnh đọa lạc địa ngục chịu khổ, nhất định không dám tạo ác, tất nỗ lực phấn đấu, rửa sạch tâm niệm, thay đổi hành vi, sửa xưa tu nay, vĩnh ly nghiệp hải. Bèn tập kết cuốn sách này, hi vọng có thể cứu bạt chúng sinh, lìa khổ được vui.

    Xem kỹ “Chư Kinh Phật Thuyết Địa Ngục Tập Yếu” thật có hiệu quả cảnh tỉnh. Nếu có thể kêu gọi in ấn, tuyên dương rộng rãi, khiến chúng nhân cảnh giác, giác ngộ chân tướng nhân quả ba đời, tự có thể hối lỗi hướng thiện, miễn trừ đau khổ địa ngục. Như thế, mới không phụ Thế Tôn đại từ nguyện lực, cùng Ấn Tổ dụng tâm lương khổ vậy!

    Thích Tịnh Không kính ghi tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
    Ngày 01 tháng 01 năm 2005

    01. KINH CHÁNH PHÁP NIỆM XỨ
    Hán dịch: Đời Nguyên Ngụy, Đại sư Cù-đàm Bát-nhã-lưu-chi
    Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

    Phẩm 3: ĐỊA NGỤC

    Lại nữa, Tỳ-kheo kia tùy thuận tư duy về pháp quả báo của nghiệp, quán chánh pháp và phi pháp.

    Thế nào là nghiệp ác? Vô lượng đủ loại nghiệp đều nhân nơi tâm mà lưu chuyển liên tục, như dòng sông chảy xiết lôi cuốn các chúng sinh, khiến họ mắc quả báo của nghiệp ác bị đọa vào địa ngục chịu khổ não cùng cực.

    Tỳ-kheo kia quán nghiệp thiện, nghiệp bất thiện, ý tư duy tận tường: Các chúng sinh này vì sao bị tâm lừa dối, bị ái lừa dối phải rơi vào nơi chốn xấu ác, sinh trong địa ngục: Hoạt, Hắc thằng, Hợp, Khiếu hoán, Đại khiếu hoán, Tiêu nhiệt, Đại tiêu nhiệt, A-tỳ. Các địa ngục này có từng khu riêng biệt, đều có người giữ ngục, theo nghiệp tương tự, mỗi mỗi đều biết rõ.

    Những nơi chốn địa ngục kia gọi là những gì? Chúng sinh do nghiệp gì, đến địa ngục gì và rơi trong chỗ nào?

    Tỳ-kheo kia thấy, nghe, biết, hoặc thấy bằng Thiên nhãn: Có đại địa ngục tên địa ngục Hoạt. Địa ngục này có các chỗ riêng biệt.

    Có bao nhiêu chỗ riêng biệt và chúng được gọi tên là gì?

    Có mười sáu chỗ riêng biệt:

    Thỉ nê.
    Đao luân.
    Công thục.
    Đa khổ.
    Ám minh.
    Bất hỷ.
    Cực khổ.
    Chúng bệnh.
    Vũ thiết.
    Ác trượng.
    Hắc sắc thử lang.
    Dị dị hồi chuyển.
    Khổ bức.
    Bát-đầu-ma-man.
    Pha trì.
    Không trung thọ khổ.
    Đây là mười sáu chốn trong địa ngục Hoạt. Chúng sinh do tạo nghiệp gì mà rơi vào địa ngục này?

    Tỳ-kheo kia thấy, nghe, biết, hoặc thấy bằng Thiên nhãn: Ai vui thích tạo, tạo nhiều và phổ biến về nghiệp sát sinh, tạo nghiệp sát sinh này tương ưng hòa hợp thì bị đọa vào chốn căn bản của địa ngục Hoạt. Nghiệp sát sinh có thượng, trung, hạ và thọ khổ ở địa ngục cũng có thượng, trung, hạ.

    Nghiệp ở địa ngục kia sao gọi là thượng? Người sát sinh nếu giết người hiền lành, giết người thọ giới hoặc người hành thiện, có tưởng về chúng sinh, về chúng sinh khác, có tâm sát sinh mà đoạn mạng căn của họ, tạo nên việc này, tâm không hối hận, còn đi đến chỗ người khác khen ngợi việc làm ấy rồi tiếp tục tạo tác. Người sát sinh còn chỉ dạy người khác sát sinh, khuyến khích việc sát sinh, theo đấy mà tùy hỷ, ca ngợi việc sát sinh hoặc sai người khác sát sinh. Người ngu si cũng như vậy, tự mình làm hoặc bảo người khác làm, nghiệp của tội đã thành hình, khi qua ðời sinh trong địa ngục Hoạt.

    Như vậy, năm mươi năm trong cơi người là một ngày đêm ở cõi Tứ Thiên vương. Số kia cũng như thế, ba mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm. Năm ngàn năm ở cõi Tứ Thiên vương là một ngày đêm ở địa ngục Hoạt. Vì nghiệp ác có thượng, trung, hạ nên thọ mạng ở đại địa ngục Hoạt cũng có thượng, trung, hạ, cũng có người chết nửa chừng, tùy theo chủng tử của nghiệp nhiều hay ít, nặng hay nhẹ. Trong địa ngục Hoạt, có người thọ khổ một chỗ, có người thọ khổ hai chỗ, hoặc ba chỗ, bốn chỗ, năm chỗ, sáu chỗ. Như vậy, chịu khổ đến mười sáu chỗ mà nghiệp ác vẫn chưa hết, chưa chết, tập khí của nghiệp vẫn còn.

    Sống trong địa ngục ấy năm trăm năm, là dựa vào số năm của cõi trời chứ không dựa vào cõi người.



    Lại nữa, Tỳ-kheo kia quán biệt xứ thứ hai trong địa ngục Hoạt tên là Đao luân, là quả báo của nghiệp đã tạo, chúng sinh do tạo nghiệp gì mà sinh vào chốn ấy?

    Người kia thấy, nghe, biết, hoặc thấy bằng Thiên nhãn: Người nào có tâm tham của cải, vì nhân duyên như vậy mà giết hại chúng sinh, hoặc nhằm để nuôi mạng sống mà dùng dao sát sinh. Người kia làm như vậy nhưng không hề sám hối, lại dạy cho người khác giết, nghiệp nghiệp phổ biến, như trước đã nói. Vì người kia đã tạo nhân là nghiệp ác nên sau khi qua đời, đọa vào chốn Đao luân trong địa ngục Hoạt. Chốn này luôn bị lửa thiêu đốt, bốn bên là tường bằng sắt cao mười do-tuần. Nơi chốn thứ hai của địa ngục đó lửa luôn bốc cháy dữ dội. Lửa nơi thế gian đối với lửa ở đây giống như mây. Ở chốn này thường có lửa sắt ập đến bám vào thân của tội nhân. Lửa sắt nóng ấy bằm thân của họ nát vụn như hạt cải, cháy tan tơi tả.

    Những trận mưa sắt giống như mưa mùa hạ trong cõi Diêm phù-đề. Mười phương của chốn thứ hai ấy, chỗ nào cũng có mưa sắt nóng rất là khổ não. Người trong địa ngục này tuy bị bằm vụn ra nhưng không chết, đó là do quả báo của nghiệp ác. Vừa bị bằm nát vụn ra như vậy thì người kia liền sống trở lại. Chốn Đao luân kia có rừng lá đao, lưỡi đao rất bén, lại có hai đầu nhọn hoắt quay trở xuống. Từ xa trông thấy rừng ấy như màu xanh và có nhựa như nước. Các tội nhân trong đó luôn bị đói khát bức bách, do cùng nghiệp khổ nên la hét chạy ùa vào trong rừng ấy. Vì nhân tạo nghiệp nên bị mưa đao phủ khắp chặt bằm thân thể họ.

    Lại nữa, người kia vì tham đắm mạng sống của mình mà nuôi dưỡng chúng sinh thì đó là lừa gạt họ. Quả báo của nghiệp kia là như vậy. Tâm nghiệp nơi họa sĩ vẽ nên cảnh địa ngục, như vậy địa ngục là bức tranh của nghiệp bất thiện. Thọ báo trong địa ngục thuộc về nghiệp bất thiện. Chúng sinh ở trong địa ngục này thường bị bằm nát, trải qua vô lượng trăm ngàn năm mà nghiệp ác vẫn chưa tan hoại, tập khí của nghiệp chưa dứt sạch, như tâm nghiệp nơi họa sĩ vẽ văn hoa không mất. Nói rộng như trước.

    ...

    Lại nữa, Tỳ-kheo kia quán biệt xứ thứ tư trong địa ngục Hoạt tên là Đa khổ. Chúng sinh vì nghiệp gì mà sinh vào chốn này? Do chủng tử của nghiệp nhân như thế nào thì đưa đến quả báo tương tự thế đó. Như người tạo vô số khổ bức bách chúng sinh nhưng mạng sống của chúng sinh kia vẫn không diệt. Đó là bị cây đè nặng khiến người kia bị khổ. Hoặc dùng dây treo lên, dùng lửa thiêu đốt, cột tóc họ rồi kéo lên cao. Hoặc hun bằng khói, hoặc kéo chạy mau trên đường, hoặc bỏ trong gai gốc trên đất khiến cho khổ não. Hoặc đánh nhào xuống đất, hoặc từ trên sườn núi cao nguy hiểm xô xuống. Hoặc lấy kim chích, lấy dây cột, khiến cho voi đạp, hoặc quăng lên hư không để rơi chưa tới đất, lại dùng dao hứng lấy khiến tội nhân chịu khổ não. Hoặc vùi trong cát, hoặc lấy đá đè lên, lấy gậy đánh đập, hoặc kẹp đầu, hoặc cho lũ trẻ trêu chọc xô đánh, làm cho khổ não. Hoặc bỏ trong chỗ nóng phỏng, hoặc bỏ trong nước đá băng, hoặc lấy nước ngâm, nhận chìm trong nước. Hoặc lấy áo nước bịt mặt nhét vào miệng. Hoặc cột dính vào cây, hoặc treo lên cành cây, khiến cho khổ não. Hoặc làm cho sợ hãi, từ sườn núi cao nguy hiểm rớt xuống chỗ sâu thẳm. Hoặc giao cho giặc oán khiến họ dùng những phương cách trị phạt rất khổ sở. Hoặc cắt âm căn, rút móng tay, nhổ lông, dùng bánh xe sắt lăn cắt đầu khiến thọ khổ não. Hoặc lấy nước chì, thiếc, đồng, sắt nung sôi rưới lên thân thể tội nhân. Hoặc cắt mũi, hoặc lấy lưỡi sắt bén, mũi cây nhọn… đâm xuyên qua chỗ đại tiện khiến bị khổ não. Hoặc ngâm trong nước, hoặc lấy dây cột từ trên cao kéo xuống. Hoặc lấy lửa đốt xung quanh râu, hoặc nhổ tóc, hoặc bỏ trùng dữ vào thân để chúng cắn. Hoặc lột da, hoặc xô hoặc kéo, hoặc khiến cho thân thể lắc lư ngã nghiêng, hoặc bỏ vào trong nồi dùng lửa nấu khiến cho khổ não. Hoặc đánh đập rồi lấy muối xát vào người. Hoặc lấy bụi, lấy đất, bột… nhét vào miệng, mặt. Hoặc lấy ống tre đặt trong chỗ đại tiện, thổi cho nó phồng lên. Hoặc dùng dao bén cắt ngón chân. Hoặc bắt dùng hơi thổi nhưng không cho phát ra tiếng. Hoặc lấy đá nổi mài mạnh lên thân thể.

    Hoặc chặt cả tay chân, hoặc đuổi chạy dài, ngăn cản việc cần làm. Hoặc cột vào cổ họng kéo qua lại trong đám hoa hoàng lam. Hoặc lấy thứ mỡ béo pha tạp đủ loại rót vào miệng. Hoặc lấy tất cả của cải, bằng vàng, vật báu. Hoặc đánh, hoặc đè, hoặc làm các thứ để mua vui. Hoặc đánh, bắn, hoặc đánh cho sưng lên, sưng rồi đánh tiếp. Hoặc lấy dây cột từ trên chỗ rất cao xô rơi xuống đất khiến bị khổ não. Bị vô lượng các thứ khổ não như vậy vì đã tạo những bức bách khổ nạn cho chúng sinh. Người kia do nhân tạo nghiệp ác, sau khi qua đời, bị đọa vào chốn Đa khổ thuộc địa ngục Hoạt. Theo nghiệp ác tương tự thế nào thì chịu quả báo tương tự thế đó. Chốn thứ tư của địa ngục này có vô lượng trăm ngàn các loại quả báo không thể nói hết.

    Tất cả khổ não kia do mình tạo thì chính mình nhận quả báo. Cảnh giới địa ngục kia tâm nghiệp nơi họa sĩ dùng bút ái mà vẽ, do phân biệt bất thiện mà thành tất cả màu sắc. Yêu thương vợ con, cho là thứ đẹp đẽ, chấp trước vào đó cho nó là lâu bền. Mình tạo nghiệp thì chính mình chịu khổ, chẳng phải do cha mẹ tạo. Nghiệp ác chưa hoại, chưa tan, tập khí của nghiệp chưa dứt, ở trong các thời luôn bị khổ não không dừng nghỉ. Chốn ấy thoái chuyển, nếu ở đời quá khứ từ xa xưa về trước có nghiệp thiện thành thục thì không bị đọa vào ngạ quỷ, súc sinh. Nếu sinh trong cơi người ở nơi đồng nghiệp thì thọ nghiệp còn sót lại, thường bị pháp vua trị phạt, hoặc đánh, trói, lo sợ, tranh giành, bị mọi người vu khống, thường bị khổ não, bị hàng Thiện tri thức, vợ con, quyến thuộc, bạn thân oán ghét.

    Lại nữa, Tỳ-kheo kia quán biệt xứ thứ năm trong địa ngục Hoạt tên là Ám minh, là quả báo của nghiệp kia. Chúng sinh vì tạo nghiệp gì mà sinh vào chốn ấy?

    Người kia thấy, nghe, biết, hoặc thấy bằng Thiên nhãn: Vì chúng sinh theo tà kiến nên bị nghiệp quả điên đảo. Nghĩa là trong các buổi tế lễ, trai hội của ngoại đạo, họ bịt miệng mũi dê để giết, hoặc kẹp rùa giữa hai khối đá đè khiến nó chết. Người kia vì nhân duyên tạo nghiệp ác mà sau khi qua đời bị đọa vào chốn Ám minh thuộc địa ngục Hoạt, bị lửa dữ thiêu đốt. Do nghiệp ác nên có gió dữ dội thổi, như núi kim cương hợp lại nghiền nát thân tội nhân vụn ra như rải cát, không bao giờ được chút vui. Tội nhân trong chốn ấy không hề thấy nhau, bị gió nóng bức thổi đến, như bị dao bén cắt khiến thân lìa từng phần. Thân bị nóng bức, đói khát, hết sức kêu gào nhưng không sao phát ra tiếng, như miệng con dê bị nhét, con rùa bị đè, thường bị lửa lớn thiêu đốt, luôn bị đè nặng trải qua vô lượng trăm ngàn năm, thường ở chỗ tối tăm, cho đến không có chút ánh sáng nhỏ như lỗ hổng của đầu ngọn kim. Từ khắp lỗ chân lông trên thân, cùng một lúc lửa khắp thân phát ra trở lại thiêu đốt thân. Thọ khổ như vậy cho tới khi nghiệp hết đều là do tâm khỉ vượn tạo ra. Tâm khỉ vượn kia đi trong núi kết sử. Núi kết sử là chỗ ẩn núp cao nhất của tâm kiêu mạn huyễn hoặc cho là bền chắc. Núi ác tà kiến là chỗ nó hoạt động, chỗ đi lại của nó là trong rừng kiêu căng phóng dật. Trong hang núi sân là chỗ nó ở. Công đức của tâm ganh ghét cho là các quả, bị trôi nổi trong sông ái, bị nghiệp bất thiện nhận chìm, cho đến khi nghiệp ác bị hủy hoại, ly tán mới thoát khỏi chốn Ám minh của địa ngục ấy. Nếu ở quá khứ từ đời trước lâu xa có nghiệp thiện thành thục thì không sinh vào hàng ngạ quỷ, súc sinh. Nếu sinh trong loài người thì luôn bị trói buộc do nghiệp quả còn sót lại nên thân mạng hay bị chết yểu.
     

Chia sẻ trang này